Tinder cũng chỉ là một trò chơi

Cần một giải pháp giúp cho những người độc thân tìm được một nửa cuộc đời của mình ư? Câu trả lời chính là Game hóa

Đây là kết quả của một nghiên cứu đầu năm 2018 dựa trên tập người dùng ở thành phố Oslo, Na Uy.

Người ta thường gắn liền khái niệm game hóa với game, nhưng trên thực tế thì game hóa chính là bất cứ sự thiết lập nào mà ở đó hành vi của con người được thúc đẩy bởi những lợi ích và những phần thưởng nhãn tiền, được thiết kế một cách có chiến lược, tự nhiên và gây nghiện. Giống như Tinder.

Tinder là một ví dụ điển hình cho thấy công nghệ không những thay đổi cách chúng ta trò chuyện với nhau, mà nó còn thay đổi cả cách chúng ta tương tác xã hội, tìm kiếm dịch vụ và thậm chí là cả... sex. Những cơ chế game hóa vẫn liên tục thu hút thêm người dùng cho Tinder. Những hành động như 'swipe' (trượt) và 'match' (ghép đôi) chính là để biến Tinder trở thành một tựa game cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Những người dùng Tinder trở thành những người chơi: họ nắm toàn quyền kiểm soát, quyết định xem họ muốn bắt đầu cuộc chơi khi nào, ở đâu, và bằng cách nào.

Những người chơi Tinder sẽ cố gắng theo đuổi các đối tượng 'match' nhiều nhất có thể, đôi khi còn swipe phải liên tọi suốt mấy tiếng đồng hồ nhưng lại không thực sự bắt đầu một cuộc trò chuyện nào. Về cơ bản thì bạn không thể mong đợi rằng Tinder sẽ cung cấp cho bạn những mối quan hệ nghiêm túc. Bởi một lẽ, bạn có thể sử dụng Tinder để bắt đầu một cuộc hẹn, nhưng những bước đi sau đó trong một mối quan hệ thì Tinder hầu như vô tác dụng. Cách duy nhất để bạn chiến thắng trong trò chơi này đó là tắt game và không chơi nữa.

Tinder đã làm thay đổi hoàn toàn quá trình tìm trâu tìm cọc thông thường. Nếu như các trang hẹn hò truyền thống thường yêu cầu của bạn rất nhiều thời gian ngồi trước máy tính, thì đối với Tinder, bạn chỉ cần rút điện thoại ra quẹt quẹt mấy phút. Ở một phương diện nào đó thì chuyện yêu đương thời nay đã trở thành một trải nghiệm "màn hình thứ hai"*, qua đó tạo điều kiện cho cái gọi là game hóa tình yêu.

Mùa yêu lại sắp đến, và hẳn là có nhiều người đang quẹt Tinder mỏi cả tay.

*Màn hình thứ hai: khái niệm nói đến một dạng trải nghiệm bổ sung song hành với một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, ví dụ như các companion app của các khoá học tiếng Anh, hay như các bộ phim siêu anh hùng của Marvel chiếu rạp cũng có các companion app để bổ sung thông tin về các nhân vật cũng như bối cảnh phim.

Nguồn: Gamification of love: a case study of Tinder in Oslo (2018) thực hiện bởi Polyanna Rocha